Nhiều người cho rằng, kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận, là cầu mong thành công cho mình. Nhưng đối với tôi, kinh doanh chính là cách phụng sự cuộc sống thông qua những sản phẩm/ dịch vụ giúp cải thiện và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Mỗi một sản phẩm tôi làm ra đều là kết tinh của ý tưởng, sức lao động, sự sáng tạo, ứng dụng các công nghệ tiên tiến… nhằm đáp ứng một nhu cầu có thật trong cuộc sống.
( ths. bùi kiến hòa - chuyên gia tư vấn thiết kế hệ thống cơ điện )
Thứ Hai, 6 tháng 7, 2015
Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015
1 cuốn sách về hướng dẫn thiết kế cơ điện lần ( M&E ) đầu tiên được viết tại việt nam. Sắp phát hành, mời các bạn đón đọc.
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THIẾT KẾ HỆ THỐNG CƠ ĐIỆN.
hcm 01/07/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Xem thêm tại web : http://sdme.com.vn/news.htm
1 tác phẩm lần đầu tiên được viết tại việt nam. Cuốn sách được viết dựa trên kinh nghiệm thiết kế hơn 10 năm, trải qua hàng trăm dựa án của ths.ks bùi kiến hòa. Sắp phát hành mời các bạn đón đọc. 1 cuốn sách giúp cho các kỹ sư kiến trúc sư muốn hoàn thiện khả năng full toàn hệ thống cơ điện ngoài kỹ năng chính của mình.
Bìa sách
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 0977772018 ( mr bùi kiến hòa ) hoặc mail :sdme2009.ltd@gmail.com
Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015
HƯỚNG DẪN TÍNH TOÁN CHỌN TIẾT DIỆN DÂY DẪN ĐIỆN.
hcm 01/07/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Xem thêm tại web : http://sdme.com.vn/news.htm
Để chọn được dây dẫn bạn cần phải biết dòng điện tải sử dụng, cùng với mật độdòng diện cho phép từng lọai dây dẫn. Ta có thể áp dụng công thức sau để tính tóan một cách gần đúng: S=I/J .
Trong đó :
- S: là tiết diện dây dẫn, tính bằng mm2
- I: là dòng điện chạy qua mặt cắt vuông, tính bằng Ampere (A)
- J: là mật độ dòng điện cho phép (A/mm2)
Mật độ dòng điện cho phép của dây đồng J~ 6A/mm2
Mật độ dòng điện cho phép của dây nhôm J~ 4,5 A/mm2
Để chọn được dây dẫn bạn cần phải biết dòng điện tải sử dụng, cùng với mật độdòng diện cho phép từng lọai dây dẫn. Ta có thể áp dụng công thức sau để tính tóan một cách gần đúng: S=I/J .
Trong đó :
- S: là tiết diện dây dẫn, tính bằng mm2
- I: là dòng điện chạy qua mặt cắt vuông, tính bằng Ampere (A)
- J: là mật độ dòng điện cho phép (A/mm2)
Mật độ dòng điện cho phép của dây đồng J~ 6A/mm2
Mật độ dòng điện cho phép của dây nhôm J~ 4,5 A/mm2
1.Trường hợp dây nhánh trong gia đình điện áp 220VAC (dây di động) :
Trường hợp dùng đèn quạt, Ti vi, tủ lạnh hoặc các thiết bị khách có công suất dưới 1kW thì dây từ ổ cắm điện hoặc công tắc điện đến thiết bị điện nên dùng đồng loạt 1 dây là dây súp mềm, tiết diện 2x1,5 mm2.
Các dây di động dùng cho bếp điện, lò sưởi,… có công suất từ 1kW đến 2kW nên dùng loại cáp PVC có 2 lớp cách điện, tiết diện 2x2,5 mm2 để đảm bảo an toàn cả về điện và về cơ.
2.Trường hợp tổng công suất các thiết bị điện, tính ở điện áp 220VAC:
Đối với thiết bị điện khác có công suất lớn hơn 2kW thì phải tuỳ theo công suất mà tính toán chọn tiết diện dây như công thức trên.
Ví dụ: Tổng công suất P dùng đồng thời trong gia đình gồm bình nóng lạnh(1.600W), tủ lạnh(300W), bàn ủi( 1.000W) và quạt(100W) là 3 kW. Nếu dùng dây đồng làm trục chính trong gia đình thì dây phải có tiết diện tối thiểu: S = 3kW/1,3 kW/mm2 = 2,3 mm2. Vậy tiết diện tối thiểu dây điện đường trục trong gia đình là 2,3 mm2. Trên thị trường có các loại dây cỡ 2,5 mm2 và 4 mm2. Để dự phòng phát triển phụ tải nên sử dụng cỡ dây 4 mm2.
Lưu ý: Tăng đường kính dây dẫn (d) là cách tiết kiệm điện dễ thực hiện nhất và mang lại hiệu quả lớn nhất. Bởi vì, tỉ lệ giảm điện trở dây dẫn sẽ lớn gấp bình phương lần tỷ lệ tăng đường kính cuả nó. (R =1,27ρ*l/d2 ). Ví dụ, khi ta tăng đường kính dây dẫn lên gấp đôi thì điện trở của dây dẫn không phải giảm đi một nửa mà giảm xuống còn 1/4. Theo đó, số kWh điện năng tổn hao do truyền dẫn cũng được giảm xuống 4 lần.
3 Chọn dây theo tiêu chuẩn việt nam
Căn cứ theo tiêu chuẩn vừa ban hành thì các bạn cứ thế mà phan.
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 097.777.2018 ( mr hòa ) hoặc mail : sdme2009.ltd@gmail.com
Trường hợp dùng đèn quạt, Ti vi, tủ lạnh hoặc các thiết bị khách có công suất dưới 1kW thì dây từ ổ cắm điện hoặc công tắc điện đến thiết bị điện nên dùng đồng loạt 1 dây là dây súp mềm, tiết diện 2x1,5 mm2.
Các dây di động dùng cho bếp điện, lò sưởi,… có công suất từ 1kW đến 2kW nên dùng loại cáp PVC có 2 lớp cách điện, tiết diện 2x2,5 mm2 để đảm bảo an toàn cả về điện và về cơ.
2.Trường hợp tổng công suất các thiết bị điện, tính ở điện áp 220VAC:
Đối với thiết bị điện khác có công suất lớn hơn 2kW thì phải tuỳ theo công suất mà tính toán chọn tiết diện dây như công thức trên.
Ví dụ: Tổng công suất P dùng đồng thời trong gia đình gồm bình nóng lạnh(1.600W), tủ lạnh(300W), bàn ủi( 1.000W) và quạt(100W) là 3 kW. Nếu dùng dây đồng làm trục chính trong gia đình thì dây phải có tiết diện tối thiểu: S = 3kW/1,3 kW/mm2 = 2,3 mm2. Vậy tiết diện tối thiểu dây điện đường trục trong gia đình là 2,3 mm2. Trên thị trường có các loại dây cỡ 2,5 mm2 và 4 mm2. Để dự phòng phát triển phụ tải nên sử dụng cỡ dây 4 mm2.
Lưu ý: Tăng đường kính dây dẫn (d) là cách tiết kiệm điện dễ thực hiện nhất và mang lại hiệu quả lớn nhất. Bởi vì, tỉ lệ giảm điện trở dây dẫn sẽ lớn gấp bình phương lần tỷ lệ tăng đường kính cuả nó. (R =1,27ρ*l/d2 ). Ví dụ, khi ta tăng đường kính dây dẫn lên gấp đôi thì điện trở của dây dẫn không phải giảm đi một nửa mà giảm xuống còn 1/4. Theo đó, số kWh điện năng tổn hao do truyền dẫn cũng được giảm xuống 4 lần.
3 Chọn dây theo tiêu chuẩn việt nam
Căn cứ theo tiêu chuẩn vừa ban hành thì các bạn cứ thế mà phan.
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 097.777.2018 ( mr hòa ) hoặc mail : sdme2009.ltd@gmail.com
Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015
HỆ SỐ CÔNG SUẤT COSΦ TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN.
hcm 29/06/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Xem thêm tại web : http://sdme.com.vn/news.htm
Bài viết này sẽ giúp bạn phần nào hiểu rõ hơn cách thức mà một thiết bị tiêu thụ năng lượng từ dòng điện xoay chiều như thế nào và tầm quan trọng của việc điều chỉnh hệ số công suất PFC (Power Factor Correction) trong việc tiết kiệm năng lượng trong truyền tải điện năng.
1. Công suất DC
Công suất được định nghĩa là tỉ lệ năng lượng được chuyển qua một bề mặt trong một đơn vị thời gian. Đối với dòng điện một chiều (Direct Current – DC ) do đặc tính của nó với các hạt điện tử chỉ chuyển động theo một hướng với chiều từ âm sang dương (dòng quy ước có chiều từ dương sang âm ) nên công suất mà nó tạo ra được tính bằng công thức:
P=U.I
Trong đó: P là giá trị công suất với đơn vị tính là W (Watt)
U là hiệu điện thế với đơn vị tính là V (Volt).
I là cường độ dòng điện với đơn vị tính là A (Ampe).
Do vậy, khi nói đến công suất trong mạch điện một chiều thì đó luôn luôn là công suất thật. Công suất trong mạch điện xoay chiều không đơn giản như vậy vì nó có chứa tới 3 thành phần công suất khác nhau là công suất thật, công suất biểu kiến và công suất phản kháng.
2. Công suất AC
Trong mạch điện xoay chiều (Alternating Current – AC) do trong mạch điện xoay chiều đều tồn tại 3 thành phần cuộn cảm (L), tụ điện (C) và điện trở (R). Trong đó L và C được coi như các kho tích luỹ năng lượng có thể làm đảo ngược định kỳ dòng chảy của năng lượng hay nói cách khác, là khi tồn tại L hoặc C trong mạch điện xoay chiều thì năng lượng đưa vào không được tiêu thụ hết. Trung bình trong một chu kỳ hoàn thành của một dạng sóng AC, năng lượng do dòng điện tạo ra sẽ có 2 phần, năng lượng đi theo một hướng vào thiết bị được gọi là công suất thật hay công suất tiêu thụ (P). Phần năng lượng được tích luỹ quay trở lại nguồn trong mỗi chu kỳ được gọi là công suất phản kháng (Q).
- Công suất thật, công suất biểu kiến và công suất phản kháng :
Ví dụ, trong một mạch điện AC đơn giản với nguồn điện cung cấp và một tải tuyến tính, nguồn điện có điện áp và dòng tải dạng hình sin. Nếu tải hoàn toàn thuần trở (tải chỉ mang tính trở kháng – R), hai giá trị điện áp và dòng điện sẽ tăng đồng pha (tăng giảm cùng lúc), năng lượng sẽ dịch chuyển theo một hướng duy nhất, trong trường hợp này chỉ có công suất thật đi qua.
Nếu tải không thuần trở, trong mạch chỉ chứa thành phần cảm kháng L hay dung kháng C, sẽ có sự lệch pha giữa điện áp và dòng điện trong mỗi chu kỳ của dạng sóng AC . Ví dụ, lệch pha 90 độ giữa điện áp và dòng điện (đối với dung kháng thì dòng điện nhanh pha hơn hiệu điện thế còn đối với cảm kháng thì dòng điện chậm pha hơn so với hiệu điện thế), giá trị điện áp nằm ở chu kỳ dương của dạng sóng và giá trị dòng điện thì bằng không, dòng năng lượng được chuyển tới rồi trả về, trong trường hợp này ta gọi là công suất phản kháng – Một công suất thể hiện sự tiêu tốn năng lượng được tạo ra khi có sự nạp và phóng năng lượng từ các thành phần L-C, công suất này hoàn toàn không tham gia vào quá trình thực hiện công của thiết bị nên còn được gọi là công suất “vô công”.
Công suất biểu kiến là giá trị công suất chứa 2 thành phần công suất thực và công suất phản kháng. Công suất biểu kiến có thể xem như là công suất tổng của thiết bị với 2 giá trị điện áp vào và dòng điện vào có thể thấy được.
Trong thực tế, ngoài các loại thiết bị mang tính thuần trở (bàn ủi, bóng đèn sợi đốt, bếp điện) thì các thiết bị khác đều mang 3 thành phần điện trở R, cảm kháng L và dung kháng C. Do đó trong việc cung cấp năng lượng cho thiết bị sẽ có 2 thành phần cùng “chảy” vào, đó là công suất tiêu thụ thực và công suất phản kháng. Để đo được việc sử dụng hiệu quả năng lượng cung cấp chuyển đổi thành năng lượng có ích, người ta đo tỉ lệ giữa công suất tiêu thụ thực với công suất phản kháng, được gọi là phép đo hệ số công suất (Power Factor – PF).
Phương pháp thông dụng nhất để làm giảm đi công suất phản kháng của các thiết bị thuần cảm là mắc song song với cuộn dây một tụ điện (người ta thường gọi là tụ bù), lúc này dòng điện sinh ra bởi cảm kháng và dung kháng lệch pha nhau 1800, dòng điện chảy vào tụ điện và cuộn dây có xu hướng triệt tiêu nhau (trung hoà). Đây là phương pháp làm giảm công suất phản kháng hiệu quả nhất trong việc truyền dẫn điện năng hiện nay.
- Các thuật ngữ và đơn vị để mô tả công suất AC
Công suất tiêu thụ thật : Real power (P) – đơn vị Watt (W)
Công suất phản kháng : Reactive power (Q) – đơn vị volt-ampere reactive (var)
Công suất biểu kiến : Apparent Power (S) – đơn vị Volt-Ampere (VA)
Trong biểu đồ, P là công suất tiêu thụ thực tế, Q là công xuất phản kháng, S là công suất biểu kiến. Công suất phản kháng không tạo ra năng lượng thực, do đó nó đại diện bằng một trục tưởng tượng trên biểu đồ. Độ lớn của góc cosine (φ) thể hiện mối tương quan giữa công suất tiêu thụ thật và công suất phản kháng.
Đơn vị W được thể hiện cho các giá trị công suất thực. Đơn vị VA thể hiện giá trị công suất biểu kiến vì nó là sản phẩm của 2 giá trị điện áp RMS và dòng điện RMS. Đơn vị var thể hiện giá trị công suất phản kháng với 2 giá trị điện áp và dòng điện phản kháng.
Mối quan hệ giữa 3 giá trị công suất này được thể hiện qua công thức
S=P+jQ
Với j là đơn vị ảo
Hệ số công suất – Power Factor (PF)
Tỉ lệ giữa công suất tiêu thụ thật và công suất phản kháng được gọi là hệ số công suất. Trong trường hợp dòng điện AC là dạng sóng sin thuần tuý, hệ số công suất là cosine của góc pha (φ) giữa dòng điện và điện áp của dạng sóng sin, vì lý do này trong các tài liệu kỹ thuật người ta thường viết tắt hệ số công suất là “cosφ”. Hệ số công suất không có đơn vị riêng, giá trị của nó được thể hiện từ 0 đến 1 và có thể được diễn tả bằng tỉ lệ phần trăm, ví dụ như PF=50%. Được thể hiện bằng công thức
PF = cosφ = P÷S
Nên muốn nâng cao công suất thật P thì cần phải nâng cao hệ số cosφ.
Hệ số công suất bằng 1 khi dòng điện và điện áp cùng pha. Các thiết bị có hệ số công suất bằng 1 như: đèn sợi đốt, bàn ủi, máy nước nóng, bếp điện,…
Hệ số công suất bằng 0 khi dòng điện và điện áp lệch pha nhau 90 độ, ở đây hệ số công suất thể hiện dòng điện nhanh hay chậm pha hơn so với điện áp. Các thiết bị có hệ số công suất dưới 1 như: đèn neon dùng chấn lưu, motor, van đóng cắt, các thiết bị điện tử,...
Trên hai hệ thống truyền tải có cùng công suất thật thì hệ thống nào có hệ số công suất thấp hơn thì sẽ có dòng điện lớn hơn vì phần năng lượng phản kháng bị trả lại nguồn lớn hơn, tạo ra nhiều thất thoát năng lượng và làm giảm hiệu năng truyền tải, làm tăng kích thước dây điện truyền dẫn. Hệ quả là nó còn có một công suất biểu kiến cao hơn với cùng một công suất thực được truyền tải.
Ví dụ, để có được 1kW công suất tiêu thụ thực trong điều kiện hệ số công suất là tối ưu nhất với giá trị bằng 1, thì cần phải có 1kVA công suất biểu kiến được truyền đi; 1kW : 1 = 1kVA. Trong điều kiện hệ số công suất thấp, ví dụ như 0.5, thì cần phải có 2kVA công suất biểu kiến được truyền đi: 1kW : 0.5 = 2kVA.
Tại sao phải quan tâm tới việc này? Cho dù công suất phản kháng thật sự không sinh ra công nhưng sự tồn tại của nó sẽ làm cho các dây dẫn nóng hơn. Những thiết bị có sử dụng các cuộn dây như motor, máy phát điện, máy biến thế,…phải được thiết kế với các cuộn dây lớn hơn để có thể chịu được công suất tổng bao gồm dòng có ích và dòng “vô công”.
Cũng chính vì lý do đó với giá trị đầu tư cho thiết bị và đường truyền cao nên giá điện dành cho các khu vực công nghiệp và thương mại có giá cao hơn so với khách hàng cá nhân, nơi có nhiều thiết bị sử dụng điện có hệ số công suất thấp. Nhà phân phối điện ngoài việc tăng giá điện với các khách hàng lớn, họ còn kiểm soát công suất phản kháng bằng các thiết bị đo chuyên dùng nhằm hỗ trợ khách hàng tìm các biện pháp làm gia tăng hệ số công suất, đồng thời phạt những khách hàng nào để hệ số công suất thấp hơn tiêu chuẩn.
3. Điều chỉnh hệ số công suất – PFC (Power Factor Correction)
- Điều chỉnh hệ số công suất tuyến tính
Điều chỉnh PFC tuyến tính áp dụng cho các thiết bị tiêu thụ trực tiếp điện áp lưới. Việc điều chỉnh có thể đạt được bằng việc thêm vào hay bớt ra các cuộn dây hay tụ điện cho thiết bị. Như động cơ mang tính cảm kháng có thể điều chỉnh PFC bằng việc đấu thêm một tụ song song với cuộn dây vận hành nhằm giúp triệt tiêu công suất phản kháng, làm giảm công suất biểu kiến và tăng hệ số PF. Thiết bị điều chỉnh hệ số công suất không những được áp dụng trong ngành công nghiệp điện mà nó còn có thể sử dụng với người dùng cá nhân khi muốn làm giảm tổn hao trên đường truyền và ổn định điện áp cho tải.
Thiết bị điều chỉnh hệ số công suất thực chất là một thiết bị cung cấp một công suất phản kháng tương ứng và đối nghịch lại với công suất phản kháng được tạo ra của thiết bị. Thêm tụ điện hay cuộn dây vào quá trình để huỷ bỏ đi hiệu ứng cảm ứng hay điện dung tương ứng được tạo ra. Động cơ có tính cảm ứng có thể được bù bằng các tụ lọc, lò hồ quang điện có tính điện dung có thể bù bằng các cuộn dây.
Khi thêm vào hay lấy ra các thiết bị bù công suất phản kháng có thể tạo ra sự biến động điện áp hay tạo ra các méo hài, trong trường hợp xấu nhất các thành phần bù công suất phản kháng có thể tạo ra hiện tượng cộng hưởng với hệ thống được bù, làm cho điện áp tăng cao và gây mất ổn định cho hệ thống. Do vậy việc điều chỉnh hệ số PFC không thể đơn giản là việc thêm hay bớt các thành phần, mà nó cần được tính toán phù hợp với từng mức công suất tải trên thiết bị.
Để tránh trường hợp trên, ứng dụng việc bù hệ số công suất PFC bằng các thiết bị bù tự động. Thiết bị này bao gồm nhiều tụ điện được đóng hay ngắt ra khỏi thiết bị được bù công suất phản kháng bằng các công tắt. Các công tắt này lại được điều khiển bằng một thiết bị điều khiển trung tâm có khả năng đo hệ số công suất bằng việc đo dòng tải và điện áp của thiết bị qua các cảm biến dòng được gắn trên đường truyền dẫn điện năng, trước khi vào thiết bị. Tuỳ thuộc vào tải và hệ số công suất của thiết bị, bộ điều khiển sẽ đấu nối tuần tự các tụ bù vào mạch sao cho giá trị hệ số công suất luôn ở trên giá trị được chọn.
Một cách khác để điều chỉnh hệ số công suất là dùng động cơ đồng bộ, động cơ đồng bộ cung cấp một công suất phản kháng có chiều nghịch với chiều công suất phản kháng của thiết bị, tính chất tiêu thụ công suất phản kháng của động cơ đồng bộ được xem là một tính chất đặt biệt của loại động cơ này, nó được xem tương đương như một tụ đồng bộ. Ngoài ra trong ngành công nghiệp điện còn có nhiều phương pháp để điều chỉnh hệ số công suất khác như bằng các thiết bị điện tử sử dụng Thyristor chẳng hạn.
- Điều chỉnh hệ số công suất phi tuyến tính
Tải phi tuyến thường là dạng tải chỉnh lưu, không sử dụng trực tiếp từ điện xoay chiều mà nắn lại thành dạng điện một chiều-chỉnh lưu như các bộ nguồn máy tính (PSU), adaptor,…hay các thiết bị sử dụng năng lượng gián đoạn-liên tục như máy hàn, bóng đèn huỳnh quang,..,các thiết bị này trong quá trình tiêu thụ năng lượng còn tạo ra các dạng sóng hài có tần số là bội số của tần số điện lưới, chèn vào tần số điện lưới. Các thành phần linh kiện tuyến tính như cuộn dây và tụ điện không thể loại bỏ được các dải tần số mới được tạo ra này, vì vậy nó phải dùng các bộ lọc hay bộ điều chỉnh hệ số công suất có thể làm phẳng dòng điện ra trên mỗi chu kỳ nhằm giảm dòng hài.
Trong các loại tải phi tuyến tính đó thì PSU được sử dụng nhiều nhất, với thiết kế chuyển đổi năng lượng theo kiểu đóng/cắt (switching). Trước đây các bộ nguồn này chỉ đơn giản được thiết kế với một cầu nắn điện chỉnh lưu toàn sóng nạp một mức điện áp dưới mức chịu đựng của tụ điện. Điều này sẽ tạo ra một dòng điện nạp ban đầu rất cao, hệ số công suất rất thấp, đồng thời tạo ra các sóng hài không có lợi.
4. Điều chỉnh hệ số công suất thụ động – Passive PFC
Phương pháp Passive PFC đơn giản chỉ là sử dụng một bộ lọc, bộ lọc này chỉ cho qua dòng điện có tần số bằng với tần số điện lưới (50Hz hoặc 60Hz) và chặn không cho các tần số sóng hài đi qua. Lúc này tải phi tuyến tính có thể xem như một tải tuyến tính, hệ số công suất đã được nâng cao hơn.
Tuy nhiên yêu cầu cần phải có cuộn cảm có giá trị cảm kháng lớn đã làm cho bộ lọc cồng kềnh và có giá thành cao, nhưng thực tế với mạch Passive PFC có cuộn dây tuy lớn hơn cuộn dây của mạch điều chỉnh hệ số công suất tích cực Active PFC nhưng giá thành chung lại rẻ hơn. Đây là một phương pháp đơn giản và rẻ tiền để điều chỉnh hệ số công suất và làm giảm sóng hài tuy nhiên nó lại không hiệu quả bằng phương pháp điều chỉnh hệ số công suất tích cực Active PFC.
5. Điều chỉnh hệ số công suất tích cực – Active PFC
Là một hệ thống điện tử công suất có chức năng kiểm soát năng lượng cung cấp cho tải, điều chỉnh hệ số công suất ở mức tốt nhất trên mọi mức tải. Trong thiết kế thực tế, mạch Active PFC điều khiển dòng nạp cho tải sao cho dạng sóng của dòng vào cùng pha với dạng sóng ở đầu vào (ở đây là sóng sin). Về cơ bản có 3 dạng mạch Active PFC được sử dụng, là; Boost, Buck và Buck-Boost.
Trong PSU, dạng mạch được sử dụng thông dụng nhất là Boost. Một mạch chuyển đổi được chèn vào giữa cầu nắn điện và tụ lọc chính. Nó tạo một điện áp DC ổn định ở đầu ra và duy trì dòng điện vào luôn đồng pha với tần số của điện áp vào. Phương pháp này đòi hỏi phải thêm một số linh kiện chuyển mạch bán dẫn công suất và mạch điều khiển nhưng bù lại nó có kích thước nhỏ hơn mạch Passive PFC.
Dạng mạch điều chỉnh hệ số công suất Active PFC có thể hoạt động trên một dải điện áp vào rất rộng, từ 90VAC đến 264VAC, đặt tính này rất được người dùng chào đón, nó giúp cho họ không cần quan tâm tới mức điện áp phù hợp với PSU tại khu vực mình đang ở, ngoài ra nó còn giúp PSU hoạt động được ở những khu vực có điện ápAC không ổn định.
Mạch Passive PFC thực tế trong PSU
Mạch Active PFC thực tế trong PSU
6. Tầm quan trọng của việc điều chỉnh hệ số công suất trong việc truyền dẫn điện năng
Thực tế cho thấy công ty cung cấp điện bán điện cho người dùng dưới 2 giá trị là điện áp và dòng điện (VA) nhưng hoá đơn lại được tính bằng Watt. Nếu hệ số công suất của thiết bị có giá trị thấp hơn 1 thì cần phải có nhiều công suất VA được truyền đi để có thể đáp ứng được công suất Watt thật, ngoài ra nó còn làm tăng chi phí thực hiện việc truyền dẫn điện.
Ví dụ, hệ số công suất là 0.5, thì công suất biểu kiến sẽ gấp 2 lần công suất thật được tiêu thụ bởi tải, đường dây điện cũng vì đó mà có kích thước lớn hơn 2 lần so với khi hệ số công suất bằng 1. Đồng nghĩa với việc điện lực phải đầu tư các thiết bị như máy phát điện, biến thế, dây dẫn, chuyển mạch có kích thước lớn hơn.:
Lưu ý: hiệu suất làm việc của thiết bị sử dụng điện không phụ thuộc vào việc thiết bị đó có hay không có PFC.
7. Một ví dụ cụ thể giữa số đo thực của hai PSU có P.PFC và không PFC
Người dùng 2 PSU có cùng thiết kế như nhau, với mức công suất giống nhau là 250W, chúng chỉ khác nhau là một PSU có P.PFC (thêm duy nhất 1 biến áp PFC) và một thì hoàn toàn không có PFC. Qua thiết bị đo Power Meter, cho thấy;
Giá trị đo của PSU không có PFC
Giá trị đo của PSU có PFC
Kết quả: Ở cùng một mức điện thế vào 220VAC và công suất DC ra là 250W thì PSU có PFC cho giá trị dòng điện vào thấp hơn là 2.1A so với 2.5A của PSU không có PFC. Công suất tiêu thụ cũng giảm đi tương ứng, giá trị hệ số công suất tăng từ 0.591 lên 0.744.
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 097.777.2018 ( mr hòa ) hoặc mail : sdme2009.ltd@gmail.com
Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015
Nghề thiết kế cơ điện M&E - những điều cần biết.
Nghề thiết kế cơ điện M&E - những điều cần biết.
hcm 25/06/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Xem thêm tại web : http://sdme.com.vn/news.htm
M&E là viết tắt của Mechanical & Electrical (hiểu theo tiếng việt nghĩa là cơ khí & điện-mà người ta thường viết tắt là ngành kỹ sư cơ điện). Ở Việt Nam hiện nay, việc thiết kế điện M&E được hiểu là các kỹ sư làm việc trong các lĩnh vực thiết kế, thi công, tư vấn…cho các công trình nhà ở, các khu chung cư cao tầng, các khu và các bộ phận phức hợp, nhưng thực chất đây là một lĩnh vực rất rộng.
Để trở thành một người thiết kế M&E giỏi, ngoài nắm vững kiến thức lý thuyết, bạn phải trao dồi kinh nghiệm trong công việc, không ngừng học hỏi thủ thật thi công của các công nhân nhiều kinh nghiệm cũng như cách điều hành tổ chức của cấp trên.
Chúng ta có thể tìm hiểu khái quát về hệ thống điện M&E như sau :
Hệ thống M&E được chia làm bốn hạng mục chính:
1.Hệ thống thông gió và điều hòa không khí ( Heating Ventilation Air Conditioning, gọi tắt là HVAC).
2. Cấp thoát nước và thiết bị vệ sinh ( Plumbing & Sanitary,gọi tắt là P&S).
3. Phần Điện ( Electrical)
4. Hệ thống báo cháy và chữa cháy ( Fire alarm & Fire fighting).
Trong 4 hạng mục trên thì phần Điện chiếm khoảng 40-60% khối lượng phần M&E ( Tùy từng dự án, thậm chí có thể lên tới 70,80%).
Về phần Điện thì ta có thể chia làm các phần sau đây:
Điện nặng bao gồm:
1. Main power supply: là hệ thống cấp nguồn chính, bao gồm các tủ trung thế, đường dây trung thế, máy biến áp 24kV/0.4kV và các tủ đóng cắt chính ( gọi là MSB, main switch board). Có thể có thêm (Hệ thống tự động điều chỉnh điện áp: Automatic Voltage Regulator System, gọi tắt là AVR)
2. Hệ thống các tủ điện phân phối: Submain power supply ( bao gồm cấp điện cho động lực, sản xuất, chiếu sáng, ổ cắm…)
3. Hệ thống chiếu sáng sinh hoạt: Lighting
4. Hệ thống ổ cắm: Socket outlet
5. Hệ thống chiếu sáng sự cố: Emergency lighting ( đèn exit, đèn emergency)
6. Hệ thống tiếp địa: Earthing system ( or grounding system)
7. Hệ thống chống sét: Lightning protection system ( bao gồm các cọc tiếp địa và kim thu sét, khác hệ thống tiếp địa)
Điện nhẹ
1. Hệ thống mạng Lan và Internet: Data network system
2. Hệ thống điện thoại: Telephone system
3. Hệ thống an ninh giám sát: Security & Supervisior system.
4. Hệ thống PA ( public address system) ….
Để trở thành một kỹ sư thiết kế chuyên nghiệp, chúng ta cần phải lưu ý ghi nhớ một số điểm vô cùng quan như sau:
- Nếu như bạn muốn chuyên về làm thiết kế thì những kiến thức lý thuyết học ở trường cũng khá là quan trọng. Bạn cần trang bị thêm cho bản than mình vốn kiến thức về các bộ tiêu chuẩn quốc tế về điện khác nhau. Có công ty thiết kế chuyên dùng chuẩn châu Âu, có công ty lại hay dùng chuẩn Úc, chuẩn Mỹ, rồi nhiều công ty cũng dùng tiêu chuẩn Việt Nam. Vậy nên bạn cần đọc thêm về các hệ thống tiêu chuẩn khác nhau này.
– Kinh nghiệm thực tế là một trong những điều vô cùng quan trọng. Vậy nên chúng ta cần giành vài tháng đến ít nhất 1 năm ra ngoài công trường để học hỏi thêm về kinh nghiệm thực tế thì thiết kế của bạn mới mang tính ứng dụng được.
– Trong các công ty thiết kế , họ có kỹ sư điện thiết kế điện, và kỹ sư lạnh thiết kế HVAC, rồi có khi có cả riêng kỹ sư cấp thoát nước, PCCC…Bạn cần nắm thêm chút kiến thức cơ bản về các mảng khác ngoài điện. Nếu bạn không có cơ bản, bạn cứ chỉ biết vẽ lên hạng mục điện của mình mà không cần quan tâm đến việc có va chạm với các hạng mục khác không thì thiết kế của bạn sẽ bị lủng, thậm chí có phần đơn điệu.
– Để thiết kế tốt, quan trọng nữa trước khi tiến vào nghề là bạn phải đọc được các bản thiết kế tốt. Muốn thiết kế giỏi, trước hết học cách đọc giỏi các thiết kế của người khác. Đọc hiểu, phân tích, ghi nhớ, rút ra kinh nghiệm thì bạn mới củng cố một vốn kiến thức nhất định.
- Thiết kế điện M&E khá là khô khan, không nhiều tính sáng tạo như bên kiến trúc, xây dựng, nội thất…M&E đòi hỏi sự tỉ mỉ và kỷ luật. Các nguyên tắc thiết kế căn bản phải được coi trọng. Vậy nên cần phải rèn cho bản thân tính kỷ luật và làm việc có nguyên tắc, giờ giấc đúng quy định.
– Thêm nữa, đó là về tính làm việc theo đội, theo tổ nhóm (team work) tạo nên sự đoàn kết để có thể tiến lên các nấc thang cao hơn trong sự nghiệp.
– Công việc thiết kế M&E là một công việc khó, nhưng cũng vô cùng thú vị, bởi nó sẽ trang bị cho mỗi người ngoài những kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ, còn trang bị thêm cho ta các kỹ năng khác trong cuộc sống, như giao tiếp chẳng hạn
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 097.777.2018 ( mr hòa ) hoặc mail : sdme2009.ltd@gmail.com
Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015
Vấn đề xử lý nước thải cho các công trình khách sạn, chung cư.
Xử lý nước thải sinh hoạt
hcm 23/06/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Xem thêm tại web : http://sdme.com.vn/news.htm
Trước khi tìm hiểu về các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt, chúng ta cần phải hiểu được nước thải sinh hoạt là gì? Nước thải sinh hoạt chính là nước thải được phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt của các cộng đồng dân cư như: nước thải tắm rửa, nước thải vệ sinh, nước thải từ các nơi sinh hoạt công cộng, nước thải từ khu nhà bếp của nhà hàng, nước thải từ hoạt động dịch vụ: giặt là.
Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là chứa nhiều tạp chất khác nhau, mỗi một nguồn nước thải có một đặc trưng riêng. Vì thế, trước khi xử lý nước thải, chúng ta cần phải phân loại nước thải để xử lý triệt để, đảm bảo tiêu chuẩn xả thải ra môi trường theo quy định của Nhà Nước và pháp luật.
Đối với nước thải từ khu tắm giặt hay còn gọi là nước xám, chúng ta đưa luôn vào hệ thống xử lý nước thải bởi loại nước thải này chứa thành phần các chất gây ô nhiễm là không đáng kể.
Đối với nước thải từ khu vệ sinh hoặc nước thải bồn cầu: Loại nước thải này thường được bà con thu gom và phân hủy một phần trong bể tự hoại làm giảm nồng độ chất hữu cơ đến ngưỡng phù hợp với các quá trình sinh học phía sau. Tuy nhiên với các hộ gia đình, loại nước thải này sau khi thải xuống bể tự hoại một thời gian, chủ nhà thường thuê các công ty rut ham cau để xử lý.
Đối với nước thải từ khu nhà bếp hoặc nước thải giặt là, chúng ta cũng cần phải có các biện pháp xử lý sơ bộ trước khi đưa vào hệ thống xử lý. Với nước thải từ khu nhà bếp, nhà hàng, chúng ta cần phải tách dầu mỡ trước vì nếu không các loại dầu mỡ này có thể làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý đằng sau. Riêng đối với nước thải giặt là, do hàm lượng chất hữu cơ không đáng kể mà chủ yếu là các hóa chất dùng để tẩy rửa nên loại nước thải này cần phải được xử lý theo phương pháp khác so với các loại nước thải ở trên.
Điển hình như bản vẽ thiết kế bên dưới.
Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt phổ biến:
Với thành phần ô nhiễm là các tạp chất nhiễm bẩn có tính chất khác nhau, từ các loại chất không tan đến các chất ít tan và cả những hợp chất tan trong nước, việc xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch nước và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái sử dụng. Việc lựa chọn phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt thích hợp thường được căn cứ trên đặc điểm của các loại tạp chất có trong nước thải, căn cứ dựa vào chất thải sinh hoạt sau khi đã phân loại. Các phương pháp chính thường được sử dụng trong các công trình xử lý nước thải sinh hoạt là:
+ Phương pháp xử lý sinh học
+ Phương pháp xử lý hóa lý
+ Phương pháp xử lý hóa học
Để hiểu sâu hơn về các cách xử lý nước thải sinh hoạt, các bạn hãy cùng công ty thông cống nghẹt, rút hầm cầu Xuân Thành phân tích từng phương pháp:
- Phương pháp xử lý sinh học ( đây là phương pháp thường dùng hiện nay )
Bản chất của phương pháp này là sử dụng khả năng sống và hoạt động của các vi sinh vật có ích để phân huỷ các chất hữu cơ và các thành phần ô nhiễm trong nước thải. Các quá trình xử lý sinh học chủ yếu có năm nhóm chính: quá trình hiếu khí, quá trình trung gian anoxic, quá trình kị khí, quá trình kết hợp hiếu khí – trung gian anoxic –kị khí các quá trình hồ. Ưu điểm của phương pháp này là chi phí rẻ, dễ thực hiện.
Điển hỉnh trạm xử lý nước thải kiểu này 50m3 ngày đêm cho khách sạn tại hội an.
- Phương pháp xử lý hóa lý:
Bản chất của phương pháp hoá lý trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là áp dụng các quá trình vật lý và hoá học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học, tạo thành các chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường. Đối với phương pháp xử lý hóa lý này, người ta thường áp dụng các phương pháp sau để xử lý nước thải sinh hoạt: phương pháp trao đổi ion, phương pháp thấm lọc ngược và siêu lọc, phương pháp keo tụ, tuyển nổi, đông tụ, hấp thụ… Giai đoạn xử lý hoá lý có thể là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý cùng với các phương pháp cơ học, hoá học, sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh.
- Phương pháp xử lý hóa học:
Phương pháp xử lý hóa học thường dùng trong hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt gồm có: trung hòa, oxy hóa khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất độc hại. Phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả xử lý cao, thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước khép kín. Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số nhược điểm nhất định như chi phí vận hành cao, không thích hợp cho các hệ thống xử lý nước thải với quy mô lớn.
Chúc các bạn thành công.
Bạn có thắc mắc hoặc cần giúp đỡ, xin liên lạc đến số điện thoại 097.777.2018 ( mr hòa ) hoặc mail : sdme2009.ltd@gmail.com
Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015
1 vấn đề mà các kts lớn hoặc cđt thường bỏ qua do sợ xấu tường.
Tại sao chúng ta cần lắp đặt quạt thông gió trong phòng ngủ có máy lạnh.
hcm 18/06/2015 _ ths.ks bùi kiến hòa (theo bản tin sdme)
Rất nhiều người nghĩ rằng, máy điều hòa nhiệt độ có khả năng lọc và trao đổi không khí với môi trường bên ngoài phòng lạnh, kể cả những nhân viên bán điều hòa, nhân viên kĩ thuật lắp đặt cũng thường giải thích với khách hàng như vậy. Thế nhưng, đó lại là một quan niệm cổ hủ và vô cùng thiếu khoa học.
Nhiều người cho rằng, việc lắp thêm 1 quạt thông gió công suất nhỏ cho phòng điều hòa là việc làm thừa thãi và chỉ tốn thêm tiền điện. Do đó, hầu hết những phòng điều hòa ở khách sạn, phòng ngủ của các gia đình đều không có quạt thông gió.Việc này gây ra tình trạng không khí không được lưu thông đủ để cung cấp ôxy cho phòng điều hòa. Do đó, thật dễ hiểu tại sao khi ngủ trong phòng điều hòa kín, lúc tỉnh dậy, đôi khi chúng ta lại cảm thấy nặng đầu, chóng mặt hoặc viêm đường hô hấp. Nhưng theo suy nghĩ thông thường, chúng ta hay đổ tại cơ thể yếu, không chịu được sức lạnh của điều hòa, điều này là hoàn toàn sai lầm.
Nguyên nhân chính ở đây là việc không khí trong phòng kín thiếu Ôxy do không có quạt thông gió. Chiếc điều hòa dù tối ưu đến đâu, cũng không thể cung cấp đủ Ôxy cho phòng ngủ của bạn.
Khi lắp đặt điều hòa không khí cho phòng ngủ, để bảo đảm sức khỏe của bạn và người thân, chống thiếu ôxy gây nhức đầu, chóng mặt, nặng nề vào sáng hôm sau thì cần có quạt hút gió công suất nhỏ hướng đối diện với dàn máy lạnh, để hút khí độc ra ngoài, đồng thời, không khí giầu ôxy cũng theo đó mà theo vào phòng cung cấp đầy đủ ôxy cho người nằm trong phòng. Bạn sẽ lập tức thấy được hiệu quả của chiếc quạt thông gió khi được lắp cho phòng điều hòa. Người già, trẻ con sẽ không còn cảm thấy “nặng đầu”, khô mũi, ngột ngạt, khi nằm trong phòng điều hòa nữa.
Sự cần thiết của việc sử dụng quạt thông gió:
- Duy trì dưỡng khí trong lành: Thải ra nguồn không khí bị ô nhiễm.
- Khử mùi: Khử mùi hôi khó chịu trong nhà vệ sinh, chất tẩy rửa…
- Loại bỏ bụi và nguồn không khí ô nhiễm: Trong không khí có những hợp chất như: Chất hữu cơ nhẹ, chất gây dị ứng ảnh hưởng đến cơ thể con người. Vì vậy quạt thông gió rất cần thiết để loại bỏ các chất này.
- Hút hơi ẩm: Hơi nước hiện diện khắp nơi trong nhà phát sinh từ phòng tắm, nước đun sôi, mồ hôi trên cơ thể con người….Gây ra ẩm mốc trên sàn nhà, mặt tường, làm cho căn hộ mau xuống cấp.
Hậu Quả Của Sự Trao Đổi Không Khí kém Trong Căn Hộ.
Các loại quạt hút hiện nay có trên thị trường.
Trpng thiết kế thì nó được thể hiện như vậy, tuy nhiên trong quá trình thi công thì chủ đầu tư đã không làm do sợ xấu tường.
Chúc các bạn thành công.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
